Thủy Sản Thủy Sản
BR-VT: Hướng dẫn người dân quy trình nuôi cá biển lồng bè
08:33 | 18/09/2015 Print   E-mail    

Sau thời gian dài bị ảnh hưởng do ô nhiễm nguồn nước xả thải từ nhà máy chế biến thủy sản trên đầu nguồn sông Chà Và, người nuôi cá biển lồng bè ở Long Sơn, thành phố Vũng Tàu đang khẩn trương bắt tay tái đầu tư vào vụ nuôi mới. Để giúp cho người dân tại các vùng nuôi cá biển lồng bè kịp thời nắm bắt các khâu kỹ thuật trong quá trình nuôi cũng như công tác quản lý chăm sóc, chọn và thả giống của mình... xin chia sẻ đến bà con quy trình nuôi cá biển lồng bè và một số vấn đề cần chú ý sau:
1. Về địa điểm nuôi: Bà con nên chú ý chọn khu vực gần cửa biển, nơi có nhiều động thực vật phù du và chọn nơi có các yếu tố như độ mặn, pH, hàm lượng ôxy phù hợp, độ sâu phải bảo đảm đáy lồng cách đáy sông ít nhất là từ 2 - 3m. Tránh nơi sóng to, gió lớn có sóng cao trên 2m và tốc độ dòng chảy lớn vì như vậy có thể làm hư hỏng lồng nuôi, trôi dạt thức ăn, làm cho cá hoạt động yếu, gây ra chậm lớn và dễ sinh bệnh.
Ngoài ra, đối với các hộ nuôi mới cũng cần chú ý tránh xa những nơi gây ô nhiễm dầu, ô nhiễm chất thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt và tàu bè qua lại nhiều, chọn những nơi nằm trong vùng quy hoạch của chính quyền địa phương, thuận lợi giao thông, dễ dàng vận chuyển. Chọn vùng nước có độ sâu dao động từ 8m trở lên, độ mặn ở ngưỡng từ 10-33 %o, tốt nhất ở ngưỡng 25-28%o, chỉ sốpH tốt nhất là ở khoảng 7,9 – 8,2, tốc độ dòng chảy thích hợp từ 0,2-0,6m/giây, hàm lượng oxy từ 4-6mg/lít, độ trong khoảng 30 – 40cm, kiểm tra nước không có các loại khí độc (H­2S, NH3) và cuối cùng là nên chọn nơi có nhiệt độ nước tốt nhất ở ngưỡng 20-300C, nếu nhiệt độ trong ngày thay đổi cao hơn 50C giữa ngày và đêm thì cần phải đề phòng cá bỏ ăn, nổi đầu, ngớp liên tục .... Người nuôi cần có các biện pháp can thiệp kịp thời như cung cấp ô xy, ngưng cho ăn, tránh xáo trộn lồng nuôi.
2. Về chọn giống cá biển: Bà con nên chọn mua giống ở những nơi có uy tín, có chứng nhận rõ ràng về nguồn gốc xuất xứ, kiểm dịch thủy sản, giống đã làm xét nghiệm các loại bệnh tại các cơ quan, đơn vị có chức năng xét nghiệm giống thủy sản trước khi thả nuôi. Đối với cá bớp giống (Cá giò) thả đạt >12cm, trọng lượng khoảng từ 20- 25g/con, chọn giống kích cỡ đồng đều, có màu sắc sáng đẹp, không dị tật, phản ứng tốt khi bắt lên khỏi mặt nước. Bà con nên thả cá vào buổi sáng lúc trời mát và nên tắm nước ngọt cho cá trước khi thả.
Cá bóp nuôi lồng bè trên sông Chà Và - xã Long Sơn
 
3. Quản lý chăm sóc cá nuôi:
Từ khi thả giống đến tháng thứ 2: Mật độ thả thích hợp ở giai đoạn này khoảng 1.000 – 1.500 con/lồng, kích cỡ khoảng từ 10 - 12 cm, trọng lượng khoảng từ 20 - 25g/con, giống nhỏ khoảng 2 – 5 cm thì kích cỡ mắt lưới tương ứng 2a = 0,5 cm, còn với cá khoảng từ 6 – 15 cm, thì kích cỡ mắt lưới tương ứng 2a = 1,0 cm, thức ăn thường là cá tươi, phải xay nhuyễn, khuyến cáo người nuôi nên trộn thêm các loại Vitamin, dầu mực, các loại chất khoáng tổng hợp cần thiết khác nhằm kích thích sự tăng trưởng và tăng sức đề kháng cho cá giống trong giai đoạn này, kiểm tra sự tăng trưởng của cá thường xuyên, chú ý san thưa lồng nuôi sau khi thả đến 2 tháng tuổi, nhằm kích thích sự tăng trưởng của cá lên mức tối đa.
Từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 4: Mật độ thả trung bình khoảng 500 – 600 con/lồng, (từ 12 – 15 con/m2). Cá ở giai đoạn này có trọng lượng khoảng từ 1,5 – 2,5 kg/con. Kích cỡ mắt lưới tương ứng 2a = 2,0cm, giai đoạn này cá tiêu thụ thức ăn nhiều, nên sử dụng thức ăn công nghiệp viên nổi tỷ lệ có thể 50/50 cá tươi, chú ý bổ sung các loại khoáng tổng hợp, VTM nhằm tăng sức đề kháng cho cá.
Từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 6: Mật độ thả trung bình khoảng300 – 500 con/lồng, (từ 7 – 13 con/m2). Cá ở giai đoạn này có trọng lượng khoảng từ 4,0 – 6,0 kg/con, cá hoạt động nhiều, chú ý quan sát khi cá ăn nhằm điều chỉnh tăng giảm lượng thức ăn phù hợp.
Từ tháng thứ 6 đến khi thu hoạch: Giai đoạn này cá lớn, mật độ thả trung bình khoảng100 – 200 con/lồng, (từ 2,5 – 5 con/m2). Kích cỡ cá nếu nuôi tốt thì thường có trọng lượng khoảng từ 7,0 - 10 kg/con. Giống như các giai đoạn đầu, người nuôi nên cố định giờ giấc cho cá ăn nhằm kích thích cá bắt mồi, giúp tiêu thụ thức ăn tốt và bớt công chăm sóc, cho cá ăn vào buổi sáng và buổi chiều lúc trời mát.
4. Một số lưu ý khi nuôi cá biển lồng bè.
Trong nuôi lồng cá biển lồng bè, dù có nhiều ưu điểm như dễ chăm sóc, quản lý, song vẫn còn có một số trở ngại mà bà con nên chú ý để mùa vụ nuôi thành công, tránh các thiệt hại không đáng có: 
- Bẩn lồng: Lồng nuôi cá bị bẩn nặng trong quá trình nuôi là vấn đề khó có thể tránh khỏi, đặc biệt là ở giai đoạn cá nhỏ phải sử dụng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ, sau khoảng 1 tháng nuôi, sự lưu thông nước giảm nhanh chóng do các sinh vật bám như hào, sun, rong, tảo, thức ăn dư thừa, nếu không thay hoặc dùng các biện pháp vệ sinh khác, lưới có thể giảm lưu thông nước đến 60%.
- Thức ăn: Cần cho cá ăn vào các giờ cố định, lúc nhiệt độ thấp, tốt nhất là vào buổi sáng và buổi chiều lúc trời mát, thức ăn cần chế biến nên vừa với miệng cá, khuyến cáo người nuôi nên sử dụng thêm thức ăn viên công nghiệp nhằm chủ động trong chăn nuôi khi gặp các điều kiện bất lợi. Khuyến cáo người nuôi cá lồng bè nên giảm sử dụng nguồn thức ăn là cá tạp, vừa không đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng cho cá nuôi, dễ gây ra bệnh cho cá, cho môi trường nước... nên dần dần chuyển sang sử dụng các loại thức ăn viên công nghiệp.
- Chất lượng nước thay đổi: Việc nuôi cá lồng bè bị ảnh hưởng mạnh bởi sự thay đổi dòng chảy, sóng gió, và các yếu tố khác như độ mặn, pH, độc tố do nhiễm bẩn, tảo nở hoa... Vì thế, trước khi nuôi, cần xem xét và chọn vị trí thích hợp, luôn có các phương án dự phòng cho bè cá của mình khi gặp các vấn đề khó khăn hay sự cố môi trường bất lợi. 
 - Dịch hại: Nhiều quan sát cho thấy rằng nuôi cá trong lồng có nhiều địch hại như rắn biển, mực, cá dữ phá lồng hay vào lồng gây hại cho cá nuôi, các loại chim ăn cá cũng là địch hại nguy hiểm cho cá khi lồng không được bảo vệkỹ và đặc biệt là giai đoạn cá giống mới thả. 
 - Bệnh cá: Cá biển nuôi lồng thường mắc một số bệnh ký sinh và vi khuẩn. Vì vậy cần thường xuyên quan sát theo dõi các dấu hiệu bất thường của cá nuôi, có kế hoạch ngăn ngừa địch hại như chim ăn cá, các loại rắn biển... thường xyên vệ sinh sạch sẽ các loại dụng cụ và vật dụng trên bè, sau khi sử dụng phải rửa sạch, phơi khô và để nơi khô ráo, sắp xếp trật tự trong kho.... Ngoài ra, khi cá nuôi có các dấu hiệu, triệu chứng bất thường thì bà con nên kịp thời báo cho cơ quan chuyên môn tại địa phương là Chi cục Thú y hay Chi cục Thủy sản để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời, tránh để xảy ra các thiệt hại không đáng có như thời gian vừa qua./.
Nguyễn Hữu Thi - Chi cục Nuôi trồng thuỷ sản